Ảnh bìa: TPM và OEE cho máy tập: giữ máy chạy tốt vào giờ cao điểm

TPM và OEE cho máy tập: giữ máy chạy tốt vào giờ cao điểm

Sáu giờ tối, máy chạy bộ số 3 báo lỗi giữa bài, khách phải bước xuống, đứng chờ cùng mấy người khác trước dãy máy còn lại. Ở góc khu tạ, máy kéo cáp treo tờ giấy “Máy hỏng” từ thứ Hai, hôm nay đã là Chủ nhật, mà không ai trong ca biết đã gọi thợ hay chưa.

Máy hỏng thì gọi thợ, nghe rất tự nhiên, nên chuyện này hiếm khi bị coi là vấn đề vận hành. Nhưng khách không nhớ máy nào hỏng, khách chỉ nhớ cảm giác phải đứng chờ đúng vào khung giờ ít ỏi mà họ có, và đó là một lý do rất thật để rời đi.

Bảo trì năng suất toàn diện (TPM) và OEE là gì

Bảo trì năng suất toàn diện (Total Productive Maintenance, TPM) là cách bảo trì nhằm đoán trước hoặc phòng ngừa hỏng hóc, thay vì chờ hỏng rồi mới sửa. Điểm cốt lõi là một phần việc bảo trì được chuyển sang tay người ngày ngày đứng cạnh máy.

Cuốn Green Belt của ASQ (2022) mô tả bốn nấc: bảo trì khi hỏng; bảo trì cải tiến, tức là sửa đổi thiết bị để khỏi hỏng hoặc dễ bảo trì hơn; bảo trì phòng ngừa theo lịch; và bảo trì năng suất, tức là gộp phòng ngừa với kỹ thuật độ tin cậy và bài toán kinh tế của thiết bị. Phòng nào chỉ gọi thợ khi máy hỏng là đang đứng ở nấc một.

Hiệu suất thiết bị tổng thể (Overall Equipment Effectiveness, OEE) là chỉ số đi cùng TPM, tính bằng Độ sẵn sàng × Hiệu suất × Chất lượng. Độ sẵn sàng là thời gian máy chạy thực tế chia cho thời gian chạy theo lịch. Hiệu suất đo xem máy có chạy đúng tốc độ thiết kế không. Chất lượng là tỷ lệ sản phẩm đạt ngay từ lần đầu. Sách có ví dụ số với độ sẵn sàng 83,33%, hiệu suất 0,80, chất lượng 98,0% nhưng không nhân ra kết quả cuối, tôi tự nhân thì được khoảng 65,3%.

Cần nói thẳng: OEE sinh ra cho máy sản xuất, nơi máy làm ra từng chiếc hàng, còn máy tập thì phục vụ con người. Sách có nhắc tới một biến thể là hiệu quả lao động tổng thể (Overall Labor Effectiveness, OLE), định nghĩa lại ba thành phần cho những quy trình dùng nhiều sức người như dịch vụ. Phần áp vào máy tập bên dưới là cách làm do Gym Tinh Gọn đề xuất theo tinh thần đó, không phải chỉ số có sẵn trong sách.

Công cụ này đánh vào lãng phí nào

Chờ đợi là loại lộ rõ nhất, khi khách phải đứng chờ vì hai máy đang nằm im. Cuốn Green Belt ghi rằng TPM giải quyết được một phần lãng phí chờ đợi.

Kế đến là Lỗi, gồm cả công sửa lỗi và làm lại: máy sửa chắp vá thì hai tuần sau hỏng lại, thợ tới lần thứ ba cho cùng một bệnh.

Cuối cùng là Lãng phí tiềm năng. Nhân viên sàn đi qua máy chạy bộ cả chục lần mỗi ngày, nên họ nghe thấy tiếng rít trước bất kỳ ai. Sách gọi đó là hỏng ngầm, tức là hỏng nhẹ, chưa làm mất chức năng, và coi TPM là lắng nghe điều bất thường để ra tay trước khi máy hỏng. Không có sổ để ghi thì những điều họ biết bị bỏ phí.

Sơ đồ dưới đây cho thấy ai giữ phần việc nào khi làm TPM ở phòng tập.

Việc làm hằng ngày nằm ở tầng rộng nhất, trong tay nhân viên sàn

Đọc từ dưới lên: tầng càng rộng thì việc càng thường xuyên. Nhân viên sàn chặn hỏng ngầm, để thợ dành sức cho việc khó.

  1. Quản lýGiữ để sổ máy được điền đủ, báo chủ phòng khi thẻ đỏ quá 48 giờ chưa có hẹn
  2. Thợ bảo trì, theo lịch thángCăng đai, thay cáp, chỉnh mô tơ, tìm nguyên nhân gốc của lần hỏng lặp lại
  3. Nhân viên sàn, mười phút đầu caLau máy, nghe tiếng lạ, thử nút dừng khẩn, kiểm cáp, chốt, đệm, rồi treo thẻ xanh, vàng hoặc đỏ
Phân vai theo The Certified Six Sigma Green Belt Handbook, tái bản lần 3, Chương 24. Việc cụ thể ở phòng tập là cách áp dụng đề xuất của Gym Tinh Gọn.

Các bước làm ở phòng tập

  1. Đánh mã từng máy. Dán mã ở chỗ dễ thấy, ví dụ CB-01 cho máy chạy bộ, KC-02 cho máy kéo cáp, để cuối tháng cộng được số lần hỏng của từng máy.
  2. Chia vai giữa nhân viên sàn và thợ. Theo cuốn Green Belt, người vận hành lo kiểm tra, lau chùi, tra dầu, chỉnh những chỗ đơn giản và ghi dữ liệu, để thợ kỹ thuật dành sức cho việc khó; nhân viên bảo trì lo bảo trì phòng ngừa theo lịch và phân tích nguyên nhân gốc; quản lý chịu trách nhiệm để phiếu được điền đủ. Ở phòng tập, người vận hành là nhân viên sàn ca sáng, còn thợ thuê ngoài tới theo lịch tháng để căng đai, thay cáp, chỉnh mô tơ.
  3. Làm mười phút kiểm đầu ca. Mỗi máy bốn việc: lau sạch, nghe và nhìn điều bất thường, thử nút dừng khẩn cấp, kiểm dây cáp, chốt, đệm ngồi. Kiểm xong thì treo thẻ: xanh là chạy tốt, vàng là chạy được nhưng có dấu hiệu lạ, đỏ là ngừng dùng. Thẻ vàng là chỗ để bắt hỏng ngầm, ví dụ dây cáp bắt đầu xơ mà vẫn kéo được.
  4. Đặt hạn cho tấm biển “máy hỏng”. Biển treo cả tuần là dấu hiệu sự cố không có ai đứng tên. Một quy ước ví dụ: thẻ đỏ ghi tên người phụ trách, ngày gọi thợ, ngày hẹn sửa, quá 48 giờ chưa có hẹn thì báo chủ phòng.
  5. Gọi tên sáu tổn thất lớn. Sách liệt kê: hỏng máy, chuyển đổi, chạy không và dừng vặt, giảm tốc, phế phẩm và làm lại, tổn thất khởi động. Đối chiếu sang sàn tập theo đề xuất của Gym Tinh Gọn: máy chạy bộ hỏng giờ cao điểm; đổi phòng cho lớp nhóm mất mười lăm phút; máy nằm chờ vì thiếu thanh kéo hay ghế; máy chạy bộ không lên dốc được; buổi PT phải làm lại vì máy trục trặc giữa bài; đầu ngày mất thời gian bật điều hòa, đèn, âm thanh.
  6. Tính tỷ lệ máy sẵn sàng giờ cao điểm. Đây là cách làm do Gym Tinh Gọn đề xuất, mượn tinh thần của OEE. Ví dụ minh họa với số giả định: 10 máy chạy bộ, cao điểm 17h tới 21h, một tuần có 10 × 4 × 7 = 280 giờ máy cao điểm. CB-03 hỏng ba tối (12 giờ), CB-07 treo biển cả tuần (28 giờ), vậy độ sẵn sàng là 240/280, khoảng 85,7%. Muốn đủ ba thành phần thì hiệu suất là phần giờ máy chạy đủ chức năng (một máy không lên dốc cả tuần, còn 212/240, khoảng 88,3%), còn chất lượng là tỷ lệ lượt dùng không bị phàn nàn (480/500, tức 96%). Nhân ba số lại được khoảng 72,7%, một con số tự tính chỉ để so tuần này với tuần trước.
  7. Cuối tháng tính MTBF và MTTR. Thời gian trung bình giữa hai lần hỏng (Mean Time Between Failures, MTBF) đo độ tin cậy của máy, thời gian trung bình để sửa (Mean Time To Repair, MTTR) đo tốc độ phản ứng của khâu bảo trì. MTBF ngắn dần là tín hiệu nên cân nhắc thay máy, MTTR dài là câu hỏi cần đặt ra với bên sửa chữa. Sách dặn phải nói rõ đã tính gồm những gì, do đó hãy chốt: giờ ngừng tính từ lúc treo thẻ đỏ tới lúc gỡ thẻ.

Sơ đồ dưới đây vẽ lại ví dụ ở bước 6, để bạn thấy vì sao ba tỷ lệ đều khá cao mà nhân lại thì thấp hơn hẳn.

Ba tỷ lệ đều trên 85%, nhân lại chỉ còn khoảng 72,7%

Mỗi hàng là một tỷ lệ trên cùng thang 0 tới 100%. Hàng cuối là tích của ba hàng trên, tính cho 10 máy chạy bộ trong một tuần, khung 17h tới 21h.

Thành phầnTích ba thành phần
Độ sẵn sàng 85,7% Hiệu suất 88,3% Chất lượng 96% Tỷ lệ tổng (tích ba số) 72,7%
Xem dạng bảng
Tỷ lệCách tínhKết quả
Độ sẵn sàng240/280 giờ máy cao điểm dùng được85,7%
Hiệu suất212/240 giờ chạy đủ chức năng88,3%
Chất lượng480/500 lượt dùng không bị phàn nàn96%
Tỷ lệ tổng (tích ba số)85,7% × 88,3% × 96%72,7%
Ví dụ minh họa, số liệu giả định. Cách áp dụng đề xuất của Gym Tinh Gọn, mượn tinh thần OEE trong The Certified Six Sigma Green Belt Handbook, tái bản lần 3, Chương 24.

Biểu mẫu mang về dùng: sổ máy hằng ngày

Mỗi dòng là một máy trong một ngày, cột sự cố chỉ điền khi máy có vấn đề. Tên và số là ví dụ minh họa.

NgàyMã máyKiểm đầu ca (lau, tiếng lạ, nút dừng khẩn, cáp/chốt/đệm)ThẻLần hỏng trong quýThời gian ngừngNguyên nhânXử lýNgười kiểm
06/10CB-01Đủ 4 mục, bình thườngXanh00Hà
06/10CB-03Băng tải trượt khi chạy trên 8 km/hĐỏ317h 06/10 tới 10h 08/10 (41 giờ)Dây đai mòn, chưa căng lạiThợ thay đai; thêm căng đai vào lịch thángHà
06/10KC-02Cáp xơ gần ròng rọc, vẫn kéo đượcVàng10Cáp quá hạn thayĐặt cáp mới, thay trong 3 ngàyNam

Cuối tháng, chỉ cần lọc theo mã máy là có số lần hỏng và tổng giờ ngừng để tính MTBF, MTTR.

Ba lỗi hay gặp và cách tránh

Biến sổ tự quản thành việc siết nhân viên. Nếu sổ chỉ dùng để bắt lỗi người quên ký thì nhân viên sẽ điền cho có. Cuốn CMQ/OE của ASQ cảnh báo rằng khi nhân viên coi Lean là công cụ cắt người, họ sẽ không tham gia và lợi ích không giữ được, vì vậy hãy nói rõ sổ này có ở đó để đỡ cho họ, để họ bớt bị khách phàn nàn giữa giờ cao điểm.

Chỉ có thẻ đỏ, không có thẻ vàng. Thiếu mức vàng thì máy chỉ còn hai trạng thái là chạy hoặc chết, trong khi mức vàng mới là nơi hỏng ngầm được ghi lại từ lúc sửa còn rẻ.

Đem tỷ lệ sẵn sàng đi so với nhà máy. Đây là cách áp dụng riêng, không có mức chuẩn ngành nào để so. Hãy lấy bốn tuần đầu làm mốc nền, rồi so phòng bạn tháng này với chính nó tháng trước.

Đo thế nào là đã có kết quả

  • Tỷ lệ máy sẵn sàng giờ cao điểm mỗi tuần: lấy giờ máy dùng được trong khung cao điểm chia cho tổng giờ máy cao điểm. Bốn tuần đầu là mốc nền, đúng như sách dặn là phải có mốc trước khi cải tiến.
  • MTBF từng máy: lấy tổng giờ máy chạy được trong tháng chia cho số lần hỏng, con số dài ra là máy đang được chăm đúng cách.
  • MTTR: lấy tổng giờ ngừng chia cho số lần hỏng, con số ngắn lại là khâu gọi thợ đang chạy nhanh hơn.
  • Số thẻ đỏ treo quá 48 giờ trong tháng, mục tiêu đưa về 0.

Bước tiếp theo

Muốn ai cũng thấy trạng thái máy mà không cần mở sổ, hãy đọc bài “Quản lý trực quan“. Máy nào hỏng lặp lại thì đem ra phân tích như bài “5 Why và biểu đồ xương cá” để tìm gốc, còn nếu khu máy đang bừa bộn thì bắt đầu từ bài “5S cho phòng tập“. Nếu chưa biết nên làm gì trước, bạn hãy đọc lộ trình “Bắt đầu với Lean“.

Nguồn tham khảo

  • The Certified Six Sigma Green Belt Handbook, tái bản lần 3, ASQ Quality Press, 2022, Chương 24 Total Productive Maintenance (bốn nấc tiến hóa, phân vai, hỏng ngầm, sáu tổn thất lớn, OEE và ví dụ số, MTTR, MTBF, OLE).
  • The Certified Six Sigma Green Belt Handbook, tái bản lần 3, ASQ Quality Press, 2022, Chương 2 Lean Principles in the Organization (OEE, TPM và lãng phí chờ đợi).
  • The ASQ Certified Manager of Quality/Organizational Excellence Handbook, Sandra L. Furterer và Douglas C. Wood, tái bản lần 5, ASQ Quality Press, 2021, Chương 14 Process Management (cảnh báo Lean không phải công cụ cắt người).
  • Tỷ lệ máy sẵn sàng giờ cao điểm, thẻ xanh vàng đỏ, bản đối chiếu sáu tổn thất và sổ máy là cách áp dụng đề xuất của Gym Tinh Gọn, không có trong sách.
Lên đầu trang